Ở gan, đại thực bào được gọi là tế bào Kupffer. Tế bào Kupffer chủ yếu được tìm thấy ở các khoảng xoang của gan và có các đặc điểm và chức năng sau:

  1. Chức năng dọn dẹp: Tế bào Kupffer có khả năng loại bỏ vi khuẩn, vi-rút và độc tố được hấp thụ từ ruột vào gan, bảo vệ gan khỏi bị nhiễm trùng.
  2. Điều hòa miễn dịch: Tế bào Kupffer có thể điều hòa môi trường miễn dịch của gan và tham gia vào quá trình tiến triển và phục hồi của các bệnh về gan.
  3. Điều hòa chuyển hóa: Tế bào Kupffer cũng tham gia vào các quá trình chuyển hóa của gan, chẳng hạn như chuyển hóa sắt và chuyển hóa lipid.

Đại thực bào (đặc biệt là tế bào Kupffer) đóng vai trò quan trọng trong điều hòa miễn dịch và chuyển hóa ở gan. Hiểu được chức năng của các tế bào này góp phần hiểu rõ hơn về cơ chế khởi phát và tiến triển của bệnh gan.

Trước đây, chúng tôi đã giới thiệu các phương pháp tiêm và phép đo phổ biến của Liposome Clodronate, và hôm nay chúng tôi chia sẻ các bài viết và phương pháp liên quan đến việc sử dụng Liposome Clodronate để làm sạch gan ở chuột.

Văn học 1

Nguồn bài viết: Sự phong tỏa hệ thống thực bào đơn nhân cải thiện việc cung cấp exosome điều trị đến cơ tim

Phương pháp thanh thải đại thực bào:

Chuột được điều trị bằng PBS/liposome/liposome với chlorophosphate (0,1 mL/10 g) trong 48 giờ. Đại thực bào được phân tích trong tế bào gan và lá lách bằng CD 11b với F4/80.

Kết quả được chia sẻ:

Văn học 2

Nguồn bài viết: Roquin-1 điều chỉnh phản ứng miễn dịch của đại thực bào và tham gia vào tổn thương thiếu máu cục bộ-tái tưới máu gan

Phương pháp thanh thải đại thực bào:

Chuột được tiêm màng bụng với liposome chlorophosphate (400 μL/chuột, 6 - 8 tuần tuổi). Để tránh nhiễm trùng ở chuột, chuột được cho uống nước có chứa aminopenicillin (1 mg/mL) cho đến khi thực hiện. Bốn mươi tám giờ sau khi tiêm, tình trạng nhiễm trùng được xác minh bằng phương pháp đo lưu lượng tế bào và miễn dịch mô học.

Kết quả được chia sẻ:

Văn học 3

Nguồn bài viết: sự trục trặc của đại thực bào trong tình trạng độc tính gan gián tiếp do Triptolide gây ra

Phương pháp thanh thải đại thực bào:

Liposome Clodronate (200 μL/chuột, trong phúc mạc) và đối chứng âm tính của nó được tiêm 48 giờ trước khi dùng để làm cạn kiệt đại thực bào. Các dấu hiệu đại thực bào CD11b (bảng trên) và F4/80 (bảng dưới) được phân tích bằng IHC trong hình ảnh cắt mô gan.

Kết quả được chia sẻ:

Văn học 4

Nguồn bài viết: phân bố tế bào của các hạt nano PLGA được tiêm vào gan

Phương pháp thanh lọc đại thực bào:

Tiêm màng bụng dạng liposome Clodronate (0,1 ml/10 g).

Kết quả được chia sẻ:

Liều lượng và phương pháp được đề cập trong tài liệu chỉ mang tính tham khảo vì các mô hình chuột trong các nghiên cứu trên rất đa dạng. Khuyến nghị điều chỉnh và tối ưu hóa phù hợp cho các điều kiện thử nghiệm cụ thể của bạn. Ngoài ra, có nhiều phương pháp liều lượng khác nhau cho các đại thực bào cư trú trong các mô khác nhau. Chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp các tài liệu có liên quan để cung cấp cho bạn nhiều tài liệu tham khảo hơn. Nếu bạn có bất kỳ nhu cầu cụ thể nào về vị trí mô hoặc phương pháp loại bỏ đại thực bào, vui lòng cho chúng tôi biết trong phần tin nhắn và chúng tôi sẽ ưu tiên tổng hợp nội dung có liên quan.

Khuyến nghị sản phẩm

Tên sản phẩm

Số mục

Đặc điểm kỹ thuật

Liposome Clodronate (Từ Vrije Universiteit Amsterdam)

40337ES08

5ml

40337ES10

10ml

Kiểm soát Liposome (PBS)

40338ES08

5ml

40338ES10

10ml

Cuộc điều tra